Khoa học công nghệ

KHCN05. HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG DÁN NHÃN NĂNG LƯỢNG TẠI VIỆT NAM

Để đáp ứng nhu cầu năng lượng đang tăng nhanh, nhất là nhu cầu tiêu thụ điện, cùng với việc phát triển cung cấp điện còn phải đẩy mạnh thực hiện các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Một trong các giải pháp quan trọng là thực hiện dán nhãn năng lượng đối với các thiết bị sử dụng năng lượng, chú trọng trước hết vào các nhóm thiết bị tiêu thụ nhiều điện năng, sử dụng phổ biến trên thị trường, có tác động lớn đến đồ thị phụ tải … Chương trình dán nhãn năng lượng đã được bắt đầu từ năm 2006 (hình thức tự nguyện) và bắt buộc thực hiện theo lộ trình đối với một số phương tiện, thiết bị tính từ tháng 7/2013 với mục tiêu là hướng tới sử dụng thiết bị hiệu suất năng lượng cao hơn, giảm điện năng tiêu thụ, giảm phát thải khí nhà kính, tiết kiệm phần vốn đầu tư lẽ ra phải dùng để xây mới nhà máy điện. Bài viết này khái quát về hiện trạng hoạt động dán nhãn năng lượng tại Việt Nam, đề xuất định hướng các nhóm giải pháp cơ bản để góp phần thúc đẩy sử dụng hiệu quả năng lượng trong sản xuất và tiêu dùng, tiết kiệm tài nguyên.

Hiện trạng dán nhãn năng lượng tại Việt Nam

Theo số liệu thống kê và dự báo, nhu cầu tiêu thụ điện năng luôn tăng trưởng với tốc độ cao (trung bình tăng khoảng 10%/năm trong giai đoạn 2011-2020 và dự báo từ nay đến năm 2030, sau mỗi chu kỳ 5 năm nhu cầu điện năng sẽ tăng lên 1,5 lần. Để đáp ứng nhu cầu như vậy, lĩnh vực năng lượng không chỉ chịu áp lực về thiết bị, công nghệ và vận hành mà áp lực về vốn đầu tư cũng rất lớn. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho ngành điện đã thực hiện giai đoạn 2011-2018 được thống kê là khoảng 818.000 tỷ đồng (bình quân 102.000 tỷ đồng/năm). Theo Quy hoạch điện VIII mới được bổ sung cập nhật, với phương án được lựa chọn (nâng công suất hiện tại từ 69.258 MW năm 2020 lên 102.193 MW vào năm 2025, 137.662 MW vào năm 2030, 276.601 MW vào năm 2045), nhu cầu về vốn đầu tư cho ngành điện được tính toán vào khoảng 12,8 tỷ USD/năm trong giai đoạn 2021-2045, tức là khoảng 320 tỷ USD cho cả giai đoạn.

Do đó, đối với Việt Nam cũng như tất cả các nước trên thế giới, sản xuất năng lượng luôn luôn đòi hỏi phải đi đôi với tiết kiệm năng lượng thì mới bảo đảm được yêu cầu phát triển bền vững. Không thực thi được nguyên tắc này thì dù có nguồn lực tài nguyên và tiềm lực tài chính lớn đến đâu chăng nữa cũng sẽ đi đến giai đoạn cạn kiệt, đồng thời xảy ra rất nhiều hệ lụy về ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái, mất ổn định kinh tế …

Trong chiến lược phát triển bền vững ngành năng lượng quốc gia, hoạt động dán nhãn năng lượng được coi là biện pháp rất cần thiết nhằm đưa các định hướng chính sách áp dụng vào thực tiễn trên diện rộng toàn quốc, hạn chế dần và tiến tới loại bỏ các phương tiện, thiết bị có công nghệ lạc hậu, giảm cường độ năng lượng trong sản xuất, sử dụng hiệu quả năng lượng trong mọi hoạt động kinh tế-xã hội.

Trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết  kiệm và hiệu quả (SDNL TK&HQ), một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đã được ban hành, tạo thành khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh theo định hướng thống nhất quản lý các hoạt động; quy định cụ thể các chế tài quản lý hoạt động của chương trình áp dụng tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng và dán nhãn năng lượng cho các phương tiện, thiết bị sử dụng nhiều năng lượng và phổ biến trong đời sống; xác định cụ thể lộ trình thực hiện. Trước hết phải nói đến Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả[1] đã quy định rõ tại Điều 5, Khoản 4: “Khuyến khích sử dụng phương tiện, thiết bị tiết kiệm năng lượng; thực hiện lộ trình áp dụng dán nhãn năng lượng; từng bước loại bỏ phương tiện, thiết bị có công nghệ lạc hậu, hiệu suất năng lượng thấp” và Điều 39 quy định về dán nhãn năng lượng. Nghị định 21/2011/NĐ-CP của Chính phủ[2] dành cả Chương V gồm 10 Điều, quy định về dán nhãn năng lượng cho phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng. Trong lĩnh vực này đã ban hành trên 20 VBQPPL ở cấp vĩ mô (bao gồm các Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư của các Bộ, ngành liên quan), 3 Chương trình quốc gia, 30 bộ Tiêu chuẩn MEPS áp dụng cho các nhóm thiết bị mục tiêu, 07 Quyết định chỉ định cơ sở thử nghiệm, 16 văn bản hướng dẫn khác.

Hoạt động dán nhãn năng lượng được chỉ đạo thống nhất trên cả nước theo “Chương trình xây dựng tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng và dán nhãn năng lượng” (gọi tắt là Chương trình). Thực hiện Chương trình như một mũi tên bắn trúng nhiều đích: (1) Về kỹ thuật và công nghệ, mục đích là ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất, làm ra những thiết bị hiệu suất cao, tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường, từng bước tiến tới loại bỏ khỏi thị trường các phương tiện, thiết bị có công nghệ lạc hậu, giảm cường độ năng lượng trong sản xuất, tiết kiệm năng lượng trong mọi hoạt động kinh tế-xã hội; (2) Về thương mại và xuất khập khẩu, thực hiện dán nhãn năng lượng sẽ tạo sức ép để các nhà nhập khẩu, buôn bán thiết bị phải chọn các sản phẩm đạt hoặc vượt tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng đã quy định và đảm bảo các thông số ghi trên nhãn, góp phần định hướng thị trường, giúp người tiêu dùng chọn đúng các sản phẩm tiết kiệm năng lượng với hiệu suất năng lượng ngày càng tiên tiến; (3) Về kết quả tiết kiệm, hàng chục triệu các thiết bị và sản phẩm sử dụng năng lượng có hiệu suất cao được sử dụng trong công nghiệp và dân dụng sẽ đem đến mức tiết kiệm lớn, hiệu quả kinh tế cao cho toàn xã hội.[3]

Hoạt động dán nhãn năng lượng tại Việt Nam được triển khai theo hình thức tự nguyện từ năm 2006 và bắt buộc phải thực hiện (đối với một số phương tiện, thiết bị) kể từ 1/7/2013. Tuy chậm sau các nước phát triển vài thập kỷ nhưng nhờ kế thừa và rút ra nhiều bài học kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước, vận dụng thích hợp vào hoàn cảnh Việt Nam, Chương trình dán nhãn năng lượng đã đạt được một số thành tựu đáng kể. Thống kê của Chương trình tiết kiệm năng lượng cho thấy đến năm 2020 đã có gần 20.000 mã sản phẩm thuộc 25 chủng loại thiết bị đã được dán nhãn năng lượng từ 01 sao đến 05 sao. Chương trình góp phần loại bỏ khoảng 45 triệu bóng đèn sợi đốt (công suất trên 40W) hàng năm ra khỏi thị trường, nâng hiệu suất nhiều loại sản phẩm tiêu thụ điện phổ biến gồm máy biến áp, điều hòa không khí, nồi cơm điện, quạt, đèn huỳnh quang ống, đèn compact, v.v…

Lượng sản phẩm bán ra của các thiết bị gia dụng có dán nhãn năng lượng như quạt điện, máy thu hình, máy điều hòa không khí, tủ lạnh gia dụng chiếm từ 90-95% tổng số sản phẩm bán ra trên thị trường. Chỉ riêng sản phẩm điều hòa không khí, ước tính lượng điện năng tiết kiệm được hằng năm do người tiêu dùng chuyển hướng sang chọn mua và sử dụng các loại sản phẩm điều hòa có hiệu suất cao vào khoảng hơn 100 triệu kWh/năm. Kết quả tiết kiệm được của sản phẩm tủ lạnh cũng là con số đáng kể. Nhìn chung, lượng điện tiết kiệm từ các sản phẩm dán nhãn năng lượng đạt khoảng 10% vào năm 2020 và dự báo con số này có thể lên tới 30% vào năm 2030 nếu quyết liệt thực hiện Chương trình với nguồn nội lực và kết hợp hiệu quả với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế.

Việt Nam đang áp dụng hai loại nhãn năng lượng là Nhãn xác nhận và Nhãn so sánh. Nhãn năng lượng xác nhận là nhãn được dán cho các sản phẩm, thiết bị (đã lưu thông trên thị trường) có mức sử dụng năng lượng đạt hoặc vượt mức hiệu suất tiết kiệm năng lượng, cụ thể là đạt hoặc vượt mức hiệu suất năng lượng cao (HEPS). Nhãn năng lượng so sánh là loại nhãn để so sánh hiệu suất năng lượng của sản phẩm được dán nhãn so với mức hiệu suất năng lượng tối thiểu quy định trong tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng (cấp độ hiệu suất mà sản phẩm đạt được so với MEPS). Nhãn so sánh là hình thức bắt buộc theo danh mục và lộ trình được quy định theo thời gian phù hợp với tiến bộ công nghệ và mức độ phổ biến trên thị trường. 

Quyết định 04/2017/QĐ-TTg quy định Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng và áp dụng hiệu suất năng lượng tối thiểu có hiệu lực từ ngày 25/4/2017, quy định cho 4 nhóm, bao gồm: (1) Nhóm thiết bị gia dụng, (2) Nhóm thiết bị văn phòng và thương mại, (3) Nhóm thiết bị công nghiệp, (4) Nhóm phương tiện giao thông vận tải.

Từ góc độ quản lý vĩ mô, trong quá trình thực hiện Chương trình dán nhãn năng lượng, các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan đã có những điều chỉnh kịp thời, sửa đổi và bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật cần thiết nhằm đơn giản hóa quá trình cấp phép dán nhãn năng lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà sản xuất và người tiêu dùng. Một ví dụ điển hình là năm 2016 Bộ Công Thương đã thực hiện một bước tiến lớn về cải cách hành chính trong lĩnh vực này, ban hành Thông tư 36/2016/TT-BCT quy định dán nhãn năng lượng cho các phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng (thay thế cho Thông tư 07/2012/TT-BCT).

Đặc biệt gần đây, một bước tiến quan trọng trong hoạt động dán nhãn năng lượng là Việt Nam đã bước đầu thúc đẩy và định hướng phát triển thị trường các sản phẩm có Hiệu suất năng lượng cao hơn. Đây là hướng đi tiệm cận gần hơn với thế giới, tương tự như các chương trình Ngôi sao năng lượng (Energy Star) của EU và Mỹ, hay Sản phẩm dẫn đầu (Top-runner) của Nhật Bản; chuẩn bị quan trọng để Việt Nam định hướng và xây dựng phương thức quản lý phù hợp, hỗ trợ các nhà sản suất đưa ra thị trường các sản phẩm sử dụng năng lượng có tính năng vượt trội, hiệu suất năng lượng cao, thúc đẩy xu hướng tiêu dùng xanh.

Từ năm 2020, Bộ Công Thương đã tổ chức Giải thưởng Hiệu suất năng lượng cao nhất nhằm tôn vinh doanh nghiệp tiên phong có sản phẩm sử dụng năng lượng hiệu suất cao trên mức 5 sao. Những sản phẩm được công nhận sẽ được dán Nhãn hiệu suất năng lượng cao nhất (HSNLCN) và được ban hành kèm theo mã QR khi lưu thông sản phẩm hàng hóa trên thị trường. Giải thưởng HSNLCN 2020 thu hút đông đảo các doanh nghiệp hàng đầu sản xuất, kinh doanh thiết bị năng lượng tham gia với 12 doanh nghiệp, tổng số 184 sản phẩm, trong đó có 54 sản phẩm đạt giải đa dạng về chủng loại, từ máy biến áp điện lực, điều hòa không khí, đèn LED chiếu sáng, máy giặt, tủ lạnh. Đây là những sản phẩm vượt trội không chỉ về mức tiêu thụ năng lượng mà còn được sản xuất, phân phối bởi những doanh nghiệp đáp ứng tốt tiêu chí về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, trong đó có những thương hiệu nổi tiếng của doanh nghiệp có vốn nước ngoài như Daikin, Panasonic hay doanh nghiệp nội như Rạng Đông, Hapulico, v.v…

Nhãn hiệu suất năng lượng cao nhất và mã QR được dán ngay trên bề mặt sản phẩm giúp người tiêu dùng nhận diện sản phẩm hiệu suất cao nhất. Mã QR dễ dàng tra cứu tại địa chỉ: https://tietkiemnangluong.com.vn/top-runner với các thông tin rõ ràng về mức tiêu thụ năng lượng của sản phẩm như: công suất, hiệu suất năng lượng, đơn vị thử nghiệm, các thông số kỹ thuật, các gợi ý sử dụng sản phẩm hợp lý, tiết kiệm năng lượng. Thành công của Giải thưởng 2020 là tiền đề cho Bộ Công Thương tiếp tục tổ chức Giải thưởng Hiệu suất năng lượng cao nhất 2021, hiện đang tiến hành.

Nhãn hiệu suất năng lượng cao nhất với mã QR đi kèm do Bộ Công Thương chứng nhận

Bên cạnh những thành tựu quan trọng, trong triển khai Chương trình dán nhãn năng lượng còn khá nhiều bất cập, trong đó có nhận thức của cộng đồng và doanh nghiệp chưa đồng đều chưa có các giải pháp quản lý và công nghệ đủ mạnh; doanh nghiệp khó khăn về vốn hoặc về vay tín dụng ưu đãi cho các dự án đầu tư sản xuất các sản phẩm tiết kiệm năng lượng; truyền thông và đào tạo về tiết kiệm năng lượng còn hạn chế, chưa kịp thời; sự giúp đỡ, hỗ trợ quốc tế chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Ngoài ra, việc thực hiện hoạt động dán nhãn năng lượng còn gặp khó khăn về nguồn nhân lực và nguồn kinh phí triển khai, cơ sở hạ tầng thử nghiệm, các tiêu chuẩn, thiết bị thử nghiệm hiệu suất năng lượng thiếu và không đồng bộ, một số văn bản chính sách hỗ trợ cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện v.v…; Điều đó đòi hỏi cần làm rõ một số định hướng, giải pháp cơ bản thúc đẩy hoạt động dán nhãn năng lượng trong giai đoạn mới.

Định hướng một số giải pháp thúc đẩy hoạt động dán nhãn năng lượng

Để nâng cao hiệu quả thực hiện các hoạt động dán nhãn năng lượng cần định hướng triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp sau đây:

Thứ nhất, nhóm giải pháp về tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản điều hành quản lý.

Bên cạnh thành tựu cơ bản đã đạt được là hệ thống VBQPPL đã được xây dựng, ban hành kịp thời và vẫn đang được tiếp tục rà soát, sửa đổi hoàn thiện – đặc biệt là đang trong quá trình nghiên cứu sửa đổi Nghị định 21/2011/NĐ-CP - cần nhìn nhận rằng việc thực thi chưa đạt yêu cầu mong muốn. Do đó, trên cơ sở Luật SDNL.TK&HQ cần tiếp tục rà soát, bổ sung hoàn thiện hệ thống các văn bản điều hành quản lý để thực sự đưa được các quy định pháp lý vào thực tế. Đặc biệt cần đưa ra được những chính sách thích hợp về công nghệ (để loại bỏ dần các công nghệ sử dụng năng lượng có hiệu suất thấp trên thị trường và thúc đẩy các công nghệ hiệu suất cao, tiếp tục bổ sung một số nhóm sản phẩm, thiết bị thích hợp vào lộ trình dán nhãn cho giai đoạn 2021-2030), về pháp chế (tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát thị trường,  xử phát các hành vi lưu hành sản phẩm sử dụng năng lượng kém chất lượng, v.v…).

Trong các công cụ điều hành quản lý, một biện pháp rất quan trọng là thúc đẩy xây dựng các cơ chế tài chính thích hợp, có tác dụng hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư thực hiện giải pháp tiết kiệm năng lượng, đầu tư thay thế dây chuyền công nghệ lạc hậu bằng dây chuyền công nghệ hiệu suất cao, nhất là giải quyết tình trạng doanh nghiệp không tiếp cận được những khoản vay tín dụng ưu đãi cho các dự án tiết kiệm năng lượng.

Thứ hai, nhóm giải pháp về xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật, công nghệ.

Hai mặt không tách rời nhau của Chương trình là dán nhãn năng lượng song hành với xây dựng tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng. Nước ta đang áp dụng loại tiêu chuẩn phổ biến là Tiêu chuẩn Hiệu suất năng lượng tối thiểu (Minimum Energy Performance Standard – MEPS), theo đó các sản phẩm cùng loại không đạt các chỉ tiêu MEPS sẽ bị hạn chế tiêu thụ dần và đi đến thải loại, cấm sử dụng để từng bước thực hiện Tiêu chuẩn Hiệu suất năng lượng cao (High Energy Performance Standard – HEPS). Tuy nhiên, hướng đi và đích đến phải là áp dụng loại tiêu chuẩn cao hơn gọi là Tiêu chuẩn Hiệu suất năng lượng mục tiêu (Target Energy Performance Standard – TEPS). Loại tiêu chuẩn này có yêu cầu hiệu suất năng lượng tiên tiến nhằm khuyến khích các doanh nghiệp phấn đấu nâng cao hiệu suất năng lượng cho các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra trong điều kiện kỹ thuật công nghệ cho phép và với giá thành hợp lý. Các loại tiêu chuẩn MEPS, HEPS và TEPS phải được định kỳ sửa đổi, cập nhật, nâng cao dần theo trình độ phát triển công nghệ trong nước để tùng bước hội nhập với tiêu chuẩn khu vực và thế giới.

Một biện pháp mà các nước phát triển đã áp dụng lâu nay là cải tiến hình thái Nhãn năng lượng theo hướng lấy người sử dụng làm trung tâm, trong đó Nhãn phải thể hiện được rõ ràng nhất các yếu tố tiên tiến của sản phẩm cả về kỹ thuật và kinh tế. Trong hướng dẫn trên Nhãn có ghi rõ thông tin: áp dụng cho loại thiết bị gì, theo tiêu chuẩn và phương pháp thử nghiệm nào, chi phí tiêu thụ năng lượng hàng năm, lượng điện năng tiết kiệm được hàng năm tương ứng với lượng tiền tiết kiệm được … Một số hình thái Nhãn có thể tham khảo như sau:

Trong thời đại công nghệ 4.0, những biện pháp số hóa tiên tiến, tiện lợi nhất đang được phổ biến và cải tiến hàng ngày, ví dụ như phương thức tra cứu hiệu suất năng lượng bằng ứng dụng mã QR mà chúng ta đã áp dụng cho sản phẩm HSNLCN. Việc này rất cần nghiên cứu, mở rộng, nhanh chóng áp dụng đại trà trên nhiều thiết bị tiết kiệm năng lượng khác nữa.

Tra cứu hiệu suất năng lượng bằng ứng dụng mã QR (Nguồn ảnh: tietkiemnangluong.com.vn)

Thứ ba, nhóm giải pháp về tăng cường tuyên truyền, thông tin, đào tạo và xây dựng năng lực.

Chương trình dán nhãn năng lượng cần vạch ra kế hoạch càng cụ thể càng tốt trong lộ trình thực hiện, trước hết bao gồm: xác định các sản phẩm mục tiêu, các nguyên tắc thực hiện, các mốc thời gian, các yêu cầu kỹ thuật và các biện pháp chế tài từ quá trình khuyến khích, tự nguyện đến bắt buộc thực hiện đối với cả đối tượng quản lý và đối tượng chịu quản lý. 

Về tăng cường tuyên truyền, cần phổ biến sâu rộng thông tin về các sản phẩm đã hoặc cần được dán nhãn năng lượng cho người tiêu dùng, cho các doanh nghiệp, các đơn vị sử dụng nhiều năng lượng. Một trong những yếu tố quyết định thành công là nâng cao nhận thức và sự quan tâm của người tiêu dùng để họ chủ động chọn mua các sản phẩm tiết kiệm năng lượng chứ không chỉ quan tâm thuần túy về giá cả hay thương hiệu như trước.

Về xây dựng năng lực, cần tiến hành một cách đồng bộ đối với cả hai đối tượng: (i) đối tượng quản lý và thực hiện chương trình dán nhãn; (ii) đối tượng thụ hưởng lợi ích của dán nhãn.

Thứ tư, nhóm giải pháp về phát huy sức mạnh tổng hợp của xã hội nhằm đạt mục tiêu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả liên quan đến mọi mặt kinh tế- xã hội, nhưng trong thời gian qua chưa có kế hoạch đủ mạnh, vừa toàn diện và dài hạn, vừa trọng điểm và chi tiết để triển khai, do đó Chương trình dán nhãn chưa khai thác được tối đa nguồn lực to lớn từ sự quan tâm và phối hợp thực sự của các ngành, các cấp, các địa phương. Bên cạnh ngành công nghiệp, các ngành có mức độ tiêu thụ năng lượng cao, có tiềm năng tiết kiệm lớn như xây dựng, giao thông, nông nghiệp … cũng mới ở bước đầu trong việc tham gia chương trình dán nhãn năng lượng. Như vậy còn dư địa rất lớn cho việc triển khai đồng bộ giữa các ngành. Trong thời gian tới cần chú trọng huy động, khai thác hơn nữa trách nhiệm và nguồn lực của các đối tượng nói trên.

Thứ năm, nhóm giải pháp về tăng cường hợp tác quốc tế.

Trong hoàn cảnh Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm và nguồn lực để thực hiện tiết kiệm năng lượng và dán nhãn năng lượng như nhu cầu mong muốn, sự giúp đỡ, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế là tác nhân rất quan trọng, là đòn bẩy có tác động thúc đẩy quá trình này ở nước ta. Trong hợp tác quốc tế, một khía cạnh quan trọng là đẩy mạnh hợp tác với các nước công nghiệp phát triển, đồng thời triển khai các chương trình hợp tác khu vực giữa các nước có xuất phát điểm và tiềm lực không quá xa nước ta, nhằm chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, tối đa hoá các tác động tích cực, tránh lặp lại các yếu tố không thành công, chia sẻ các bài học kinh nghiệm của các quốc gia và kinh nghiệm quốc tế đã được đúc kết, tập hợp và chuyển giao.

Dán nhãn năng lượng là hoạt động mang lại hiệu quả quan trọng về nhiều khía cạnh kinh tế, xã hội, công nghệ, trong thời gian tới cần đẩy mạnh triển khai sâu rộng hơn nữa, góp phần thực hiện thành công Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn đến năm 2030./.

 

TS. Nguyễn Thăng Long

Hội KHCN sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Việt Nam

Tài liệu tham khảo chính:

  1. Báo cáo Chương trình Dán nhãn năng lượng, Văn phòng Tiết kiệm năng lượng, Vụ KH-CN và TKNL, Tổng cục Năng lượng (trước đây), 2015.
  2. Nghiên cứu đánh giá tác động của chương trình dán nhãn năng lượng đối với thiết bị điều hòa không khí và tủ lạnh (Đề tài nghiên cứu KH-CN cấp Bộ, TS. Nguyễn Thăng Long và cộng sự, 2019)

[1] Luật số 50-2010/QH12 của Quốc hội ban hành ngày 17/6/2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011

[2] Nghị định 21/2011/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 29/3/2011 Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

[3] Mục tiêu của Chương trình là sẽ tiết kiệm tiêu dùng (tích lũy) khoảng 10 nghìn tỷ đồng (khoảng gần 480 triệu USD), tương ứng sẽ giảm lượng khí thải CO2 (carbon-dioxide) khoảng 34 triệu tấn vào năm 2030. Lượng điện tiết kiệm cho quốc gia hàng năm sẽ vào khoảng 6.000 GWh/năm (tương đương với lượng điện do hai nhà máy điện đốt than 500 MW cung cấp, có nghĩa là tiết kiệm được gần 1 tỷ USD vì không phải đầu tư xây mới nhà máy điện).

 

 

 

Để có thể bình luận, xin vui lòng đăng nhập

Năng lượng tái tạo từ bã mía

23/11/2021

7 sinh viên đến từ khoa Công nghệ Vật liệu, khoa Môi trường và Tài nguyên thuộc trường Đại học Bách khoa, Đại học quốc gia TP HCM, nhóm đề xuất ý tưởng tận dụng bã mía bỏ đi chế tạo than giàu năng lượng có thể cháy lâu và thải ít CO2 với giáo viên và nhận được sự ủng hộ.

KHCN10. KINH NGHIỆM TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA CÁC NHÀ CUNG CẤP THIẾT BỊ, CÔNG NGHIỆP HIỆU QUẢ NĂNG LƯỢNG QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM

27/10/2021

Qua hơn 10 năm triển khai Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, các hoạt động liên quan đến tiết kiệm năng lượng (TKNL) đã có nhiều chuyển biến tích cực.

KHCN09. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM VÀ HIỆU QUẢ TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG CỦA VIỆT NAM

27/10/2021

Tiềm năng tiết kiệm năng lượng (TKNL) của ngành xây dựng rất lớn và có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả tổng thể chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả của đất nước.

KHCN08. TIỀM NĂNG TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG THÔNG QUA CỘNG SINH CÔNG NGHIỆP

26/10/2021

Để góp phần đưa nền kinh tế hiện tại đến gần hơn với Kinh tế tuần hoàn (Circular Economy) và theo hướng phát triển bền vững, cộng sinh công nghiệp là một trong những phương pháp hữu hiệu, đáp ứng yêu cầu thực tế và phục vụ mục tiêu xanh, bền vững.

KHCN07. THỰC TRẠNG, THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA VIỆC TRIỂN KHAI ISO 50001 TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP

25/10/2021

Hệ thống quản lý năng lượng ISO 50001 là một công cụ hữu hiệu, góp phần quản lý năng lượng (QLNL) theo hướng bền vững

KHCN06. TỐI ƯU HÓA SỬ DỤNG NHIỆT TRONG NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN

25/10/2021

Trong vận hành tổng thể của nhà máy nhiệt điện, sử dụng nhiệt là yếu tố rất quan trọng tác động lớn đến vấn đề tiết kiệm năng lượng. Nguyên lý hoạt động cơ bản và những biện pháp chính nhằm nâng cao hiệu suất nhiệt đối với nhà máy nhiệt điện đã được khái quát tại bài báo này, đồng thời một số khuyến nghị thực tế đối với các nhà máy nhiệt điện đang hoạt động trong hệ thống điện Việt Nam đã được đưa ra để xem xét, vận dụng một cách tối ưu.